10.2.10

Tạp chí MathVn số 4 - năm 2010

Ngày đăng: 10.2.10 -
Tạp chí MATHVN số 4 năm 2010Tạp chí MathVn số 4 - năm 2010 gồm các bài viết sau

+ Câu chuyện Toán học
- Nhà Toán học Vĩ đại của Thế kỷ Hai mươi - Nguyễn Gia Định
- Bạn có cần phải là thiên tài để làm Toán - Trần Bạt Phong dịch

+ Bài viết chuyên đề MathVn
- Two similar geometry problems - Nguyen Van Linh
- Định lý giá trị trung bình
- Bất đẳng thức cho hàm Gamma - Ngô Phước Nguyên Ngọc
- Số đại số lượng tử và biểu diễn của chúng - Nhóm GPAM2X

+ Bài dịch chuyên đề
- Từ công thức Picard đến công thức Euler.

+ Cuộc thi giải toán MathVn
- Đề toán dành cho Học sinh
- Đề Toán dành cho Sinh viên
- Các vấn đề mở
- Lời giải kì trước

+ Olympic Học sinh-Sinh viên
- Olympic học sinh Toàn Nga 2009
- Olympic sinh viên toàn Ukraine

+ Nhìn ra thế giới
- Kỳ thi Qualify Xác suất của Đại học Utah

+ Góc lập trình tính toán

+ Tin tức toán học

+ Giải trí toán học

Download tại đây (đang cập nhật)


Đã đăng: Tạp chí MathVn số 1, 2, 3: http://www.mathvn.com/2009/09/tap-chi-mathvn-so-1-2-3-nam-2009.html
»»  xem tiếp

MTBT 2009-2010 Thừa Thiên Huế

Ngày đăng: -
Đề thi và đáp án môn Giải toán bằng MTBT (MTCT) năm học 2009-2010 tỉnh Thừa Thiên Huế cho bậc THCS và THPT.
»»  xem tiếp

Đêm đến tàn CANH, DẦN sẽ sáng

Ngày đăng: -
Đêm đến tàn CANH, DẦN sẽ sáng
Vế đối của Hà Sỹ Phu (có lẽ mừng năm mới Canh Dần), có người (Đuyên Hồng) đối lại nhưng chưa chỉnh
Xuân sang cởi Giáp, Tý còn đau!
»»  xem tiếp

Rắc rối bài toán con gà

Ngày đăng: -

Sau phản ánh về giải bài toán phép cộng con gà ở sách bài tập lớp 3, tác giả soạn vở nói sẽ sửa trong lần tái bản tới. Giáo viên tiểu học cho hay, khi dạy toán theo chương trình mới, vẫn phải áp đặt vì nếu để tự do thì trẻ sẽ không biết cách trình bày.   
Mô tả ảnh.
HS tiểu học
Tác giả phân trần
Một bạn đọc có con đang theo học lớp 3 ở trường chuẩn quốc gia Hà Nội thắc mắc về điều chưa ổn của 1 bài toán  trong sách tham khảo.
Giải thích chuyện học sinh không giải được bài toán, ông Nguyễn Ngọc Hải, tác giả cuốn bài tập nói rõ, Nhà Xuất bản đã cắt bớt dòng. "Theo bài tập đó, tôi đã ghi, học sinh phải có 6 dòng để thực hiện phép tính".

Bài toán số 1, trang 14 cuốn "Bài tập cuối tuần Toán 3" (tập 2 - tái bản lần thứ 2) như sau: "Một trại chăn nuôi ngày thứ nhất bán được 1072 con gà trống và 347 con gà mái; ngày thứ hai bán được 421 con gà trống và 178 con gà mái. Hỏi trong cả hai ngày trai chăn nuôi đó bán được tất cả bao nhiêu con gà?". Xem phản ánh đầy đủ Tại đây
Theo ông Hải, giáo viên hướng dẫn học sinh cách làm lần lượt phép tính là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, HS khá giỏi vẫn có thể thực hiện phép tính cộng gộp vào và làm trong 4 dòng là vừa. Khi giảng, cô giáo có thể đưa ra 2 cách: làm theo từng bước diễn giải đối với học sinh bình thường và làm phép tính gộp đối với HS khá trở lên.
Tuy nhiên, khi trao đổi với VietNamNet, ông Nguyễn Quốc Hồng, Phó Giám đốc Công ty CP đầu tư và phát triển giáo dục Hà Nội (NXB Giáo dục Việt Nam), nơi chịu trách nhiệm nội dung cuốn "Bài tập cuối tuần Toán 3" cho hay, "chúng tôi chỉ đưa ra các yêu cầu cấu trúc về đề cương và nội dung còn khi triển khai cụ thể hoàn toàn do tác giả".
Còn theo ông Nguyễn Xuân Bình, biên tập viên của công ty, người biên tập cuốn sách này trước khi đưa vào in ấn thì "mới đây, tác giả đã liên hệ với tôi và nói rằng, bài này tính gộp thì 4 dòng là đủ. Còn làm theo cách thông thường và diễn giải ra thì thiếu 2 dòng".
"Khi biên tập sách, chúng tôi hoàn toàn tôn trọng ý kiến tác giả. Lỗi này có thể khi chế bản, dòng này dòng kia có những chỗ bị xê dịch đi 1-2 chỗ nào đó", ông Bình giải thích.
Giáo viên thử giải
Cô Vũ Kim Oanh, giáo viên Trường tiểu học Cát Linh (quận Đống Đa, Hà Nội) cho biết, cuốn "Bài tập cuối tuần Toán 3" các giáo viên trong trường không dùng, chỉ sử dụng sách giáo khoa và động viên học sinh, phụ huynh làm thêm bài tập trong cuốn "vở bài tập" Toán, Tiếng Việt ở nhà. Nếu có thêm bài  thì dành cho HS giỏi, do cô giáo tự ra đề.
"Nhiều quyển sách, chúng tôi cũng gặp phải trường hợp như thế này. Ngay bài tìm x ở bên dưới (bài số 2 cùng trang - PV), HS trình bày cũng sẽ rất khó", cô Oanh nói.
Theo cô Oanh, "bài toán con gà" sẽ được dạy trên lớp như sau: dòng trên viết câu lời giải, dòng dưới viết phép tính. Còn với trường hợp cụ thể này, nếu không đủ dòng, có thể viết sát vào lề và viết phép tính lên trên.
"Điều này không bắt buộc, miễn là trình bày bài rõ ràng, sạch sẽ và phép tính đầy đủ. Học sinh khá, giỏi sẽ vẫn làm được" - cô Oanh nói.
"Có khi sách viết tốt và chuẩn, nhưng chưa có sự đồng nhất giữa giáo viên và nhà viết sách. Do đó,  không tránh được khiếm khuyết".
"Vẫn phải áp đặt"
Cô Vũ Kim Oanh bắt đầu dạy tiểu học từ năm 1993. Theo cô, phương pháp dạy theo sách mới đã hơn phương pháp cũ, phát huy được thế mạnh của HS. Bắt HS phải hoạt động và động não nhiều, không bị áp đặt như trước đây. Do đó, các hoạt động đoàn thể cũng mạnh dạn hơn.
Câu chuyện "bài toán con gà lớp 3" chỉ là một ví dụ về dạng bài của chương trình tiểu học mới.
Một giáo viên tiểu học, là tổ trưởng tổ dạy toán cho hay, khi dạy bài mới và dạng mới, giáo viên "phải áp đặt".
Ví dụ ở lớp 1, bắt đầu giải bài Toán có lời văn, sau khi làm thành thạo thì mới "tung" ra cách sáng tạo cho các cháu. Nếu không áp đặt, học sinh sẽ không biết cách trình bày. Ví dụ: cách lùi vào bao nhiêu ô, câu lời giải ngắn có thể lùi 3 ô, dài lùi 1 ô, tùy từng thời điểm, khối lớp. Đến lớp 3, sau kỳ nghỉ hè dài, cô phải nhắc lại cách viết câu lời giải. Với học sinh học lực trung bình, giáo viên phải nhắc nhiều hơn nếu không các cháu sẽ viết lung tung.
Sẽ điều chỉnh vở bài tập 
"Đây là lần xuất bản thứ 3 (tái bản lần 2 - PV) nhưng chưa nhận được phản hồi về vấn đề này", ông Nguyễn Xuân Bình cho biết.
Ông cũng phân trần: "Không phải vì tham khảo mà chúng tôi làm không kỹ, đặc biệt là sách của trẻ nhỏ. Những cái còn tồn tại thế này là sơ suất".
Đồng tác giả cuốn sách, ông Nguyễn Ngọc Hải nhận sai và hứa sẽ đề xuất với nhà xuất bản để chỉnh sửa trong lần tái bản cuối vì trong sách đó không chỉ một bài này mà còn 1 bài khác cũng bị trường hợp tương tự.
Về việc bất tiện của giấy khi viết vào bị nhòe, thấm mực, ông Bình cũng nhận lỗi là chưa kiểm tra lại. Dù trước đó ban biên tập sách đã đề nghị với nhà in là phải dùng loại giấy để viết được (vì đây là một loại vở). Tuy nhiên, sau 3 lần in chưa có ý kiến phản ánh về vấn để này nên chưa chỉnh sửa. "Sau phản ánh này chúng tôi sẽ tiếp thu và sửa", ông Bình nói.
  • Viet Nam Net
»»  xem tiếp

5.2.10

Ông vua Toán học Carl Friedrich Gauss

Ngày đăng: 5.2.10 -
Carl Friedrich Gauß (được viết phổ biến hơn với tên Carl Friedrich Gauss; 30/4/1777 – 23/2/1855) là một nhà toán học và nhà khoa học người Đức tài năng, người đã có nhiều đóng góp lớn cho các lĩnh vực khoa học, như lý thuyết số, giải tích, hình học vi phân, khoa trắc địa, từ học, thiên văn học và quang học. Được mệnh danh là "ông vua toán học", với ảnh hưởng sâu sắc cho sự phát triển của toán học và khoa học, Gauss được xếp ngang hàng cùng Leonhard Euler, Isaac Newton và Archimedes như là những nhà toán học vĩ đại nhất của lịch sử.
Carl Friedrich Gauss.jpg
Từ lúc nhỏ tuổi, Gauss đã thể hiện mình là một thần đồng, để lại nhiều giai thoại, trong đó có nhắc đến những phát kiến đột phá về toán học ngay ở tuổi thiếu niên. Ông đã hoàn thành quyển Disquisitiones Arithmeticae, vào năm 24 tuổi. Công trình này đã tổng kết lý thuyết số và hình thành lĩnh vực nghiên cứu này như một ngành toán học mà ta thấy ngày nay.

Thời tuổi trẻ


Gauss được sinh ra tại Braunschweig, thuộc Brunswick-Lüneburg (nay là Hạ Saxony, Đức), con trai duy nhất của một cặp vợ chồng thuộc tầng lớp thấp trong xã hội. Theo giai thoại kể lại, tài năng bẩm sinh của Gauss được phát hiện khi ông mới lên ba, qua việc ông sửa lại lỗi của cha trong tính toán tài chính. Một câu chuyện khác kể rằng khi ông học tiểu học, thầy giáo yêu cầu học sinh tính cộng các số nguyên từ 1 đến 100. Gauss đã trả lời đúng chỉ trong vài giây bằng một cách giải nhanh và độc đáo. Ông nhận thấy việc cộng hai số ở đầu và cuối dãy tạo ra kết quả trung gian giống nhau: 1 + 100 = 101, 2 + 99 = 101, 3 + 98 = 101, và kết quả tổng cộng là 50 × 101 = 5050. Câu chuyện này có nhiều khả năng là chuyện có thật, mặc dù bài toán mà thầy giáo của Gauss đã ra có thể khó hơn như vậy.

Từ năm 1792 đến 1795, Gauss được nhận học bổng của Karl Wilhelm Ferdinand (công tước trong vùng) để vào trường trung học Collegium Carolinum. Từ năm 1795 đến 1798 ông học ở Đại học Göttingen. Trong trường trung học, Gauss khám phá ra một số định lý toán học quan trọng một cách độc lập; năm 1796, Gauss đã có đột phá toán học đầu tiên khi ông chứng minh rằng mọi đa giác đều với số cạnh bằng số nguyên tố Fermat (và, do đó, mọi đa giác đều với số cạnh bằng tích của các số nguyên tố Fermat khác nhau và lũy thừa của 2) đều có thể dựng được bằng compa và thước kẻ. Đây là một khám phá quan trọng trong ngành dựng hình, một bài toán đã làm đau đầu nhiều nhà toán học từ thời Hy Lạp cổ đại. Gauss đã thích thú với kết quả này đến nỗi ông đã yêu cầu khắc lên mộ mình sau này một hình thất thập giác đều. Tuy nhiên người xây mộ đã từ chối, nói rằng khó khăn kỹ thuật sẽ làm cho hình với số cạnh nhiều như vậy trông giống một hình tròn.

Năm 1796 có lẽ là năm chứng kiến nhiều phát kiến của Gauss nhất, chủ yếu cho ngành lý thuyết số. Vào 30 tháng 3 năm đó, ông tìm thấy cách dựng hình thất thập giác. Ông đã tìm ra số học modula, một khám phá giúp cho việc giải toán trong lý thuyết số được đơn giản hóa đi nhiều. Công thức nghịch đảo toàn phương của ông được tìm thấy ngày 8 tháng 4. Định luật khá tổng quát này cho phép các nhà toán học xác định khả năng giải được cho các phương trình bậc hai trong số học modula. Định lý số nguyên tố được Gauss phát biểu ngày 31 tháng 5, cho một cách hiểu thấu đáo về cách sô nguyên tố được phân bố trong dãy số nguyên. Ngày 10 tháng 7, Gauss đã tìm thấy rằng bất cứ số nguyên nào cũng có thể được biểu diễn bằng tổng của tối đa là ba số tam giác; ông đã sung sướng viết trong sổ tay của mình "Heureka! num= Δ + Δ + Δ." Ngày 1 tháng 10, ông cho xuất bản một kết quả về các nghiệm của các đa thức với hệ số trong trường vô hạn, một kết quả đã dẫn đến phát biểu Weil 150 năm sau.

Thời trung niên

Trong luận văn của ông năm 1799, Gauss đã trở thành người đầu tiên chứng minh định lý cơ bản của đại số. Định lý này nói rằng bất cứ một đa thức trên trường số phức nào cũng đều có ít nhất một nghiệm. Các nhà toán học trước Gauss mới chỉ giả thiết rằng định lý đó là đúng. Gauss đã chứng sự đúng đắn của định lý này một cách chặt chẽ. Trong cuộc đời của mình, ông đã viết ra tới bốn cách chứng minh hoàn toàn khác nhau cho định lý trên, làm sáng tỏ ý nghĩa của số phức.

Năm 1801, Gauss tiếp tục có nhiều cống hiến trong lý thuyết số, tổng kết lại trong quyển Disquisitiones Arithmeticae, một công trình chứa đựng miêu tả gọn gàng về số học modula và cách chứng minh thứ nhất của công thức nghịch đảo toàn phương. Cùng năm này, nhà thiên văn Ý Giuseppe Piazzi tìm thấy thiên thể Ceres, nhưng chỉ kịp thấy nó trong vài tháng. Gauss đã tiên đoán chính xác vị trí mà thiên thể này sẽ được tìm lại, và tiên đoán này được khẳng định bởi quan sát của Franz Xaver von Zach ở thị trấn Gotha vào ngày 31 tháng 12, 1801, và bởi Heinrich Wilhelm Matthäus Olbers ở Bremen một ngày sau đó. Zach đã ghi lại "nếu không có công trình trí tuệ và tính toán của tiến sĩ Gauss chúng ta đã có thể không tìm lại Ceres được nữa." Vào thời điểm này Gauss tuy vẫn nhận lương của Công tước, ông bắt đầu cảm thấy ngành toán học cơ bản có thể không đảm bảo đủ thu nhập. Ông đã tìm việc trong ngành thiên văn học, và vào năm 1807 được giữ cương vị Giáo sư Thiên văn và Giám đốc đài thiên văn ở Göttingen. Ông đã làm việc với chức vị này trong suốt phần còn lại của cuộc đời.

Sự khám phá ra Ceres của Giuseppe Piazzi ngày 1 tháng 1 năm 1801 đã giúp Gauss chuyển hướng nghiên cứu sang lý thuyết về chuyển động của các tiểu hành tinh, bị nhiễu loạn bởi các hành tinh lớn hơn. Các công trình của ông trong lĩnh vực này đã được xuất bản năm 1809 dưới tên Theoria motus corporum coelestium in sectionibus conicis solem ambientum (lý thuyết về chuyển động của các thiên thể trong quỹ đạo mặt cắt hình nón quanh Mặt Trời). Piazzi chỉ quan sát được Ceres trong vài tháng, khi thiên thể này di chuyển khoảng vài độ trên bầu trời. Sau đó thiên thể này chói lòa bởi ánh sáng Mặt Trời. Vài tháng sau, khi Ceres đã ló ra khỏi vùng ảnh hưởng của ánh sáng Mặt Trời, Piazzi đã không tìm thấy nó: các công cụ toán học thời đó không đủ chính xác để giúp ông tiên đoán trước vị trí thiên thể này từ các dữ liệu ít ỏi đã quan sát được – 1% của toàn bộ quỹ đạo.

Gauss, lúc đó ở tuổi 23, đã được nghe về bài toán này và lập tức giải quyết nó. Sau ba tháng làm việc miệt mài, ông đã tiên đoán vị trí của Ceres vào tháng 12 năm 1801 – khoảng 1 năm sau khi thiên thể này được nhìn thấy lần đầu – và tính toán này đã được kiểm chứng lại cho thấy sai số nhỏ hơn nửa độ. Các công trình của ông đã trở thành công cụ tính toán quan trọng cho thiên văn học thời này. Ông đã giới thiệu hằng số hấp dẫn Gauss và hoàn chỉnh phương pháp bình phương tối thiểu, một phương pháp dùng cho hầu như một ngành khoa học ngày nay khi giảm thiểu sai số đo. Gauss đã chứng minh chặt chẽ giả định về sai số theo phân bố Gauss (xem định lý Gauss-Markov). Phương pháp này đã được Adrien-Marie Legendre dùng vào năm 1805, nhưng Gauss nói ông đã dùng nó từ năm 1795.

Cuối thập niên 1810, Gauss được mời thực hiện các nghiện cứu trắc địa cho bang Hannover để liên kết với mạng lưới Đan Mạch. Gauss vui lòng chấp nhận và tham gia, đo đạc vào ban ngày và xử lý kết quả vào ban đêm, sử dụng khả năng tính toán phi thường của ông. Ông thường viết cho Heinrich Christian Schumacher, Heinrich Wilhelm Matthäus Olbers và Friedrich Bessel, nói về tiến trình đo đạc và các vấn đề. Trong cuộc điều tra trắc địa này, Gauss đã phát minh máy heliotrope (?) sử dụng hệ thống gương để phản chiếu ánh sáng Mặt Trời vào kính viễn vọng phục vụ đo đạc chính xác.

Gauss cũng đã tuyên bố khám phá ra hình học phi Euclide nhưng ông chưa bao giờ xuất bản các công trình về vấn đề này. Khám phá này đã là một cuộc cách mạng trong tư duy toán học đương thời, giải phóng các nhà toán học khỏi giả thuyết rằng các tiên đề Euclide là cách duy nhất để xây dựng hình học không tự mâu thuẫn. Các nghiên cứu về hình học này, cùng với các ý tưởng khác, đã dẫn đến lý thuyết tương đối rộng của Albert Einstein, miêu tả vũ trụ trong hình học phi Euclide. Farkas Bolyai, một bạn của Gauss, người mà Gauss đã thề làm "anh em kết nghĩa" khi còn là sinh viên, đã thử chứng minh định đề song song từ các tiên đề Euclide mà không thành công. Con trai của Bolyai, Janos Bolyai, khám phá ra hình học phi Euclide năm 1829 và xuất bản công trình này năm 1832. Sau khi nhìn thấy xuất bản của Janos Bolyai, Gauss đã viết cho Farkas Bolyai: "Nếu khen công trình này thì tức là tự khen tôi. Toàn bộ nó ... trùng hoàn toàn với những gì tôi nghĩ trong suốt ba mươi đến ba mươi nhăm năm qua." Câu nói khó kiểm chứng này đã gây căng thẳng trong quan hệ với János Bolyai (người đã nghĩ rằng Gauss đã "ăn cắp" ý tưởng của ông).
Cuộc thăm dò địa trắc ở Hannover đã dẫn Gauss đến khám phá ra phân bố Gaussian dùng trong miêu tả sai số phép đo. Nó cũng dẫn ông đến một lĩnh vực mới là hình học vi phân, một phân ngành toán học làm việc với các đường cong và bề mặt. Ông đã tìm thấy một định lý quan trọng cho ngành này, theorema egregrium xây dựng một tính chất quan trọng cho khái niệm về độ cong. Một cách nôm na, định lý nói rằng độ cong của một bề mặt có thể được đo hoàn toàn bởi góc và khoảng cách trên bề mặt đó; nghĩa là, độ cong hoàn toàn không phụ thuộc vào việc bề mặt trông như thế nào trong không gian (ba chiều) bao quanh.

Cuối đời và sau đó

Năm 1831 Gauss đã có hợp tác hiệu quả với nhà vật lý học Wilhelm Weber; hai ông đã cho ra nhiều kết quả mới trong lĩnh vực từ học (trong đó có việc biểu diễn đơn vị từ học theo khối lượng, độ dài và thời gian) và sự khám phá ra định luật Kirchhoff trong điện học. Gauss và Weber đã lắp đặt được máy điện toán điện từ đầu tiên vào năm 1833, liên lạc thông tin từ đài thiên văn về viện vật lý ở Göttingen. Gauss đã cho xây một trạm quan sát từ học trong khu vườn của đài thiên văn và cùng Weber thành lập "câu lạc bộ từ học" (magnetischer Verein), phục vụ việc đo đạc từ trường Trái Đất tại nhiều nơi trên thế giới. Ông đã sáng chế ra một phương pháp đo thành phần nằm ngang của từ trường, một phương pháp được tiếp tục ứng dụng sau đó cho đến tận nửa đầu thế kỷ 20, và tìm ra một lý thuyết toán học cho việc định vị các nguồn từ trường trong lòng Trái Đất (tách biệt nguồn do lõi và vỏ Trái Đất với nguồn do từ quyển hành tinh này.
Gauss mất ở Göttingen, Hannover (nay thuộc Hạ Saxony, Đức) năm 1855 và được chôn cất tại nghĩa trang Albanifriedhof. Bộ não của ông được bảo quản và nghiên cứu bởi Robert Heinrich Wagner; nó nặng 1.492 gam và có diện tích vỏ não rộng 219.588 xentimét vuông. Trên vỏ não cũng tìm thấy nhiều nếp cuộn, một đặc điểm được nhiều người vào đầu thế kỷ 20 cho là lời giải thích cho trí tuệ đặc biệt của ông (Dunnington, 1927). Tuy nhiên, ngày nay môn não học này được cho là giả khoa học.

Gia đình

Cuộc sống riêng tư của Gauss đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cái chết của người vợ đầu tiên, Johanna Osthoff, vào năm 1809, và của một đứa con, Louis, ít lâu sau. Ông lập gia đình lần thứ hai với Friederica Wilhelmine Waldeck (thường gọi là Minna), một người bạn gái của vợ cũ, nhưng Minna lại mất vào năm 1831 sau một thời gian dài đau ốm. Từ đó người con gái Therese của ông phải chăm lo cho gia đình cho đến khi ông mất. Mẹ của Gauss cũng sống trong cùng mái nhà từ năm 1812 đến khi bà mất vào năm 1839.
Gauss có sáu người con. Với người vợ thứ nhất, Johanna (1780-1809), các con là Joseph (1806-1873), Wilhelmina (1808-1846) và Louis (1809-1810); trong số đó Wilhelmina được coi là có có trí tuệ giống cha nhất nhưng cô lại mất sớm. Với người vợ thứ hai, Minna Waldeck, ông cũng có ba con: Eugen (1811-1896), Wilhelm (1813-1879) và Therese (1816-1864).

Cá tính

Gauss là người cuồng nhiệt theo chủ nghĩa hoàn hảo và một người lao động cần cù. Có giai thoại kể rằng một lần, lúc Gauss đang giải một bài toán, có người đến báo với ông rằng vợ ông sắp mất. Ông đã nói "Bảo cô ấy đợi chút cho đến lúc tôi xong việc". Ông không phải là người xuất bản nhiều tác phẩm khoa học, từ chối việc đăng các công trình của ông khi chúng chưa được ông cho là hoàn hảo hay còn nằm trong tranh luận. Khẩu hiệu của ông là pauca sed matura (ít, nhưng chín chắn). Một nghiên cứu nhật lý của ông cho thấy ông đã khám phá ra nhiều khái niệm toán học quan trọng nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ trước khi chúng được xuất bản bởi các đồng nghiệp đương thời. Một nhà viết lịch sử toán học, Eric Temple Bell, ước đoán rằng nếu Gauss xuất bản hết mọi công trình của ông, toán học đã có thể tiến nhanh hơn 50 năm. (Bell, 1937.)
Một phê bình khác về Gauss là ông không hỗ trợ các nhà toán học trẻ tiếp bước ông. Ông rất hiếm khi hợp tác với các nhà toán học khác và bị nhiều người cảm thấy tách biệt và khắt khe. Mặc dù ông có một số học trò, Gauss có vẻ không thích dạy học (có người nói ông chỉ dự duy nhất một hội thảo khoa học, ở Berlin năm 1828). Tuy nhiên, một số học trò của ông sau này cũng trở thành các nhà toán học lớn, như Richard Dedekind và Bernhard Riemann.
Gauss là người theo đạo và bảo thủ. Ông ủng hộ hoàng gia và chống lại Napoleon Bonaparte người mà ông cho rằng là sản phẩm của cách mạng.

Ghi công

Từ 1989 đến 2001, hình của ông cùng với biểu đồ phân bố Gauss được in trên tờ tiền giấy 10 mark Đức. Đức cũng đã in 3 con tem kỷ niệm về Gauss. Con tem số 725, phát hành năm 1955 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của Gauss; hai tem khác, số 1246 và 1811, được phát hành năm 1977, kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông.
G. Waldo Dunnington, một học trò lâu năm của Gauss, đã viết nhiều về Gauss trong: Carl Frederick Gauss: Titan of Science. (Carl Frederick Gauss: Người khổng lồ về Khoa học). Quyển này được tái bản năm 2003.
Hố Gauss trên bề mặt Mặt Trăng  tiểu hành tinh 1001 Gaussia đều được đặt tên để ghi công ông.
Cuộc thi toán hằng năm tổ chức bởi Đại học Waterloo cho các học sinh trung học tại Canada được đặt tên theo Gauss.

Wikipedia
»»  xem tiếp

4.2.10

Ta đã bị hack

Ngày đăng: 4.2.10 -
Một ngày đẹp trời, ta đang online và say sưa chat trên Yahoo! Messenger, tự nhiên có một tên nhảy vào gửi message cho ta. Một cái nick lạ hoắc.

Nhưng trời ạ, làm sao hắn biết tất tần tật về ta, từ tên (có cả họ và chữ lót), tuổi (có cả ngày tháng năm sinh), chiều cao, cân nặng cho đến sở thích và luôn cả... độ cận nữa! Chuyện gì đã xảy ra vậy trời?

Quá đỗi ngạc nhiên, ta tiếp tục chat với hắn. Hắn thú nhận với ta là vào một đêm mưa gió trở trời, hắn đã “đụng độ” với ta trên Moviesboom (trang web dành cho những fan của điện ảnh), nơi ta thường lui tới để xem thông tin về phim ảnh.

Ấn tượng với cách nói chuyện của ta, cộng với một tí tò mò cùng kỹ năng điêu luyện của một tay hacker, hắn đã bới tung Internet để tìm cho ra được ta là ai. Và hắn đã thành công một cách mỹ mãn. Giờ đây hắn biết tất cả về ta (trừ địa chỉ nhà, theo lời hắn thừa nhận), còn ta thì không biết, dù chỉ một bit thông tin về hắn, ngoại trừ cái nick.

Nếu ai đã từng coi qua bộ phim khá nổi tiếng The Net do cô đào Sandra Bullock thủ vai chính thì chắc sẽ hiểu được phần nào hoàn cảnh của ta bấy giờ. Có thể nói không ngoa là ta đã bị hắn hack rồi.

Trò chuyện một hồi khá lâu, hắn bảo là hắn không có phá phách gì ta, mà chỉ muốn gây ấn tượng để làm quen với ta thôi. Nếu đúng vậy thì một lần nữa hắn đã rất thành công. Ta mặc dù rất đỗi kinh hãi nhưng phải nói là ta đã bị hắn “hớp hồn”. Và chính điều này đã hại ta thêm một lần nữa.

Ta rất muốn diện kiến “dung nhan” của hắn (ta đoán chắc là xí trai lắm, hacker thường như thế?!) nên ta nhất quyết rủ hắn đi dự buổi offline của Moviesboom ở nhà một nhỏ bạn ta, cũng là member của Moviesboom, và ta đã cho hắn số điện thoại căn nhà đó “để tiện liên lạc” (theo yêu cầu của hắn. Đáng tiếc, hôm đó hắn không đến).

Rồi một ngày đẹp trời sau đó không lâu, hắn gọi điện thoại đến nhà ta. Trời ơi, như vậy là hắn đã biết nhà ta ở đâu luôn rồi còn gì nữa. Một mớ thắc mắc hôm trước chưa được giải đáp, hôm nay lại thêm một cú sốc nữa, trong đầu ta bây giờ là một câu hỏi thật lớn...

Hắn đã làm điều đó như thế nào?

Sau khi quen nhau được khá lâu, gọi điện thoại cũng vài lần, và sau hàng trăm lần nài nỉ, cuối cùng hắn cũng đã chịu bật mí cho ta nghe hắn mò ở đâu ra từng ấy thông tin về ta.

Đụng độ với ta trên Moviesboom xong, hắn liền nhảy vào xem profile (thông tin cá nhân) của ta trên đó.

Trong profile, ta vô tình để lại cái nick của ta thường dùng trên Yahoo! Messenger. Lượm được (theo cách hắn nói chuyện) cái nick đó, hắn liền nhảy vào Google, đồng thời không quên tạt ngang qua trang Yahoo! Profiles để “đào ta lên từ nghĩa địa Internet”.

Google không mang lại cho hắn nhiều thông tin, nhưng Yahoo! Profiles thì lại cung cấp một chi tiết vô cùng quan trọng: một email thứ hai của ta đăng ký tại HotMail. Sẽ không có gì ầm ĩ nếu như email đó không phải là họ và tên ta ghép lại hoặc ta không thường dùng cái nick đó khi tham gia các diễn đàn.

Hắn tiếp tục dùng Google để tìm thông tin về cái nick mới phát hiện của ta. Song song đó, hắn nhảy vào trang MSN Member để lùng cái email @hotmail.com của ta. Và kết quả thì như đã nói, hắn đã thành công rực rỡ. Trên một diễn đàn, khi đăng ký member, ta đã khai tất tần tật về mình, từ chiều cao, cân nặng, sở thích, họ tên thật, ngày tháng năm sinh.

Trên MSN Member, ta đã cho hắn biết ta là nữ sinh viên năm 1, đang ở TP.HCM. Thế còn số điện thoại nhà ta làm sao hắn biết?

Người trong giới hacker và security chắc đều đã từng nghe qua Kevin Mitnick, một tay hacker sừng sỏ, từng xâm nhập rất nhiều hệ thống của các hãng như Nokia, Sun Microsystems... Nhưng kỳ thật Kevin Mitnick không giỏi về kỹ thuật mà biệt tài của hắn nằm ở khả năng nắm bắt tâm lý, khai thác thông tin để từ đó tiến hành lừa đảo.

Những ngón nghề lừa đảo của Kevin Mitnick thường được gọi bằng cụm từ “social engineering”, và kẻ đã tấn công ta chính là một tay “social engineer” bậc thầy sau khi đã lĩnh hội cuốn The Art of Deception (Nghệ thuật lừa đảo) do chính Kevin Mitnick viết.

Biết ta họp offline ở nhà bạn, và bạn ta cũng là member của Moviesboom, hắn lên Moviesboom cố quan sát và tìm hiểu xem bạn ta là member nào, mang nick gì. Thật dễ dàng cho hắn, họp offline xong, bà con cô bác lên forum, shoutbox bàn tán sôi nổi, hắn nhanh chóng biết được tên thật của bạn ta thông qua profile của nhỏ ấy.

Thế rồi một buổi sáng, chuông điện thoại nhà nhỏ bạn ta reng lên (chính ta cho hắn số điện thoại này).

- Alô, dạ cho gặp A. ạ.

- A. đây, ai vậy?

- A. hả, anh là member của Moviesboom nè, hôm bữa có ghé nhà em chơi đó, à em cho anh hỏi số điện thoại của nhỏ U. là nhiêu vậy em?

- TAXU à, đợi tí, nè ghi lại đi 8xxxxxxx.

- Ồ, cảm ơn em.

- Hihi, mà anh là anh N. hả?

- Ừ, anh N. đây, thôi chào em nhé.

- Ừ, chào anh.

Thế là xong đời ta!
Thái, Vnhacker
»»  xem tiếp

3.2.10

Ngô Bảo Châu - thời thơ ấu

Ngày đăng: 3.2.10 -

Khi còn bé, tài năng toán học Ngô Bảo Châu từng phải uống sữa quá hạn sử dụng và anh thường xuyên rửa bát, quét nhà, giúp mẹ làm thêm.
>> Ngô Bảo Châu làm giáo sư Đại học Chicago
>> Ngô Bảo Châu - hành trình của một tài năng xuất chúng
Giáo sư Ngô Bảo Châu và bố,
Giáo sư Ngô Bảo Châu cùng mẹ.
Trò chuyện với VnExpress, mẹ của Bảo Châu là Phó giáo sư tiến sĩ Trần Lưu Vân Hiền đã kể những câu chuyện về thời khó khăn khi anh còn thơ bé, chuyện học toán và cả tình yêu của người con trai tài năng.
Câu chuyện bắt đầu với đề tài bổ đề cơ bản trong “Chương trình Langlands” của Ngô Bảo Châu – công trình được tạp chí Time xếp vào danh sách “10 phát hiện khoa học tiêu biểu năm 2009”. Theo tiến sĩ Hiền, giáo sư Bảo Châu không coi nghiên cứu của anh là “bom tấn”, “kỳ tích” hay “vĩ đại” như lời một số báo ca ngợi. Vị giáo sư 37 tuổi cũng không muốn người ta gọi anh là nhà toán học “xuất chúng nhất” hay “hàng đầu thế giới”. Quan điểm của Bảo Châu là không nên chú trọng quá mức tới lời khen, bởi chẳng ai trở nên thông minh hơn vì được tán dương.
Bảo Châu sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đất nước còn khó khăn. Khác với trẻ em ở các thành phố thời nay, anh thường xuyên phải uống sữa quá hạn sử dụng, người mẹ kể. Những bữa cơm của gia đình anh cũng đạm bạc như bao gia đình khác. Tuy chỉ có một cậu con trai duy nhất, mẹ và cha anh - tiến sĩ Ngô Huy Cẩn - không hề cưng chiều Bảo Châu. Anh luôn bị phạt nếu mắc lỗi và cũng thường xuyên rửa bát, giặt quần áo cũng như giúp mẹ làm thêm để tăng thu nhập. Giống như nhiều học sinh ham học khác, Bảo Châu không bao giờ để bố, mẹ nhắc nhở việc học bài. Trên thực tế phó giáo sư Hiền chỉ thường xuyên giục con … ngủ sớm để bảo vệ sức khỏe.
Quãng thời gian học ở Trường thực nghiệm Giảng Võ ở Hà Nội có ảnh hưởng tích cực tới cách học của Bảo Châu, giúp anh hình thành cách tư duy phản biện, độc lập và sáng tạo. Mỗi khi mượn hay mua được một cuốn sách toán, Bảo Châu thường giải lần lượt từng bài tập từ đầu đến cuối. Đối với các môn khác, anh cũng không học theo kiểu nhồi nhét hay nhớ từng câu chữ.
Một điểm thú vị là cậu học sinh Bảo Châu hiếm khi xem tivi vì anh không thích. Thói quen này vẫn được duy trì tới tận bây giờ. Trong thời gian sống tại Pháp và Mỹ, anh không sử dụng dịch vụ truyền hình cáp để ba cô con gái có nhiều thời gian hơn cho việc học. Vào buổi tối thứ sáu hàng tuần Bảo Châu cho con xem băng video để thư giãn.
"Cô thường nói đùa rằng ba cô con gái của Châu sống như binh sĩ trong trại lính. Mẹ các cháu cũng nói vậy. Các cháu được chiều khi sống cùng ông bà ngoại ở Hà Nội, song khi trở lại Pháp thì phải vào khuôn khổ vì anh chị không có nhiều thời gian để chiều chuộng con. Châu bảo các kênh truyền hình Mỹ không có lợi cho trẻ em vì toàn chiếu những chương trình quảng cáo. Vì thế không khuyến khích các cháu xem tivi kể từ khi sang Mỹ", tiến sĩ Hiền kể.
Sau khi tài năng toán của Bảo Châu được phát hiện, các thầy giáo đã dành nhiều thời gian cho việc bồi dưỡng anh. Trong số những người đó có giáo sư, tiến sĩ khoa học Lê Tuấn Hoa – hiện là Phó viện trưởng Viện Toán học và chủ tịch Hội Toán học Việt Nam. Tuy đam mê toán và chăm chỉ làm bài tập, Bảo Châu không học theo kiểu “quên ăn quên ngủ”. Anh vẫn dành thời gian để đá bóng, đọc truyện, nghe nhạc, chơi đàn violon, đánh cờ tướng hay giúp mẹ làm việc nhà.
Dù nhiều chuyên gia toán đánh giá cao tài năng của Bảo Châu, phó giáo sư Hiền chưa bao giờ nghĩ con thuộc diện “xuất chúng” hay “thần đồng”. Bà cho biết, khi học chuyên toán, lực học của anh ngang bằng so với nhiều bạn cùng lớp. Khi Bảo Châu giành điểm tuyệt đối 42/42 trong kỳ thi Olympic Toán quốc tế khi mới 16 tuổi, cô mừng vì thành tựu của con, song vẫn không nghĩ sau này anh sẽ trở thành một nhà toán học tầm cỡ thế giới.
Một điều thú vị là Bảo Châu cũng tin vào yếu tố tâm linh trong việc thi cử. Trước ngày thi anh thường tới chùa. Ngoài ra anh thích được ông ngoại đưa đi thi và đón về vì có vẻ như ông đem lại sự may mắn. Trong những kỳ thi cậu học sinh Bảo Châu luôn mang theo một lọ penixilin đựng nước sâm. Tiến sĩ Hiền kể rằng hồi ấy bà làm tại Bệnh viện Y học cổ truyền trung ương nên được ưu tiên mua những mẩu sâm bé xíu rẻ tiền. Vào phòng thi, sau khi đọc đầu bài Bảo Châu lôi lọ nước sâm ra và uống. Sự hiện diện của lọ nước sâm khiến anh cảm thấy vững tâm hơn trong quá trình làm bài.
Bảo Châu lập gia đình ở tuổi 22 với người bạn gái học cùng chuyên toán thời phổ thông. Gia đình giúp anh cân bằng cuộc sống tinh thần với việc nghiên cứu khoa học. Bảo Châu cũng gặp nhiều khó khăn sau khi kết hôn. Tại Đại học Paris 11 anh nhận mức lương 3.000 EUR mỗi tháng, nhưng hàng tháng phải chi 1.500 EUR để trả tiền thuê nhà. Ba cô con gái của anh đều được ông bà nội nuôi tại Hà Nội khi các cháu khoảng một, hai tuổi vì bố mẹ chúng không có nhiều thời gian chăm sóc và không có người giúp việc. Khi được 4-5 tuổi các cháu lại sang Pháp để đoàn tụ với bố mẹ.
Trong mấy năm qua anh hợp tác chặt chẽ với Viện Toán học để nâng cao hoạt động đào tạo toán bậc cao về cả chất lượng và số lượng. Bảo Châu đã mời nhiều giáo sư toán tại Pháp sang Việt Nam để giảng dạy cho Viện Toán học và bản thân anh cũng tham gia giảng dạy. Ngoài ra anh còn liên hệ với một số trường đại học Pháp để các học viên cao học toán có thể tiếp tục học tại những trường đó sau một năm học ở Viện Toán học.
Bảo Châu đang ấp ủ đề án thành lập một viện nghiên cứu đặc biệt giống ở Hàn Quốc. Đó sẽ là nơi mà các nhà khoa học có thể toàn tâm toàn ý với việc nghiên cứu mà không phải lo toan những vấn đề vụn vặt trong cuộc sống hàng ngày.
Bảo Châu không coi tiền bạc và tiếng tăm là ưu tiên hàng đầu trong cuộc đời. Anh chỉ muốn có một cuộc sống bình thường, giản dị và được làm công việc yêu thích. Châu nói với mẹ rằng, nếu kiếm được nhiều tiền hơn mức cần thiết, anh sẽ sử dụng phần dôi dư vào hoạt động từ thiện, chẳng hạn như giúp đỡ trẻ em nghèo, mồ côi hoặc tật nguyền tại Việt Nam.
VnExpress
»»  xem tiếp

Thi thiết kế bài giảng điện tử với tổng giải thưởng 5 tỷ đồng

Ngày đăng: -
Tên cuộc thi: Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử e-Learning. Đơn vị tổ chức: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, Cục Công nghệ Thông tin chủ trì tổ chức triển khai.
Đồng tổ chức và tài trợ chính: Quỹ Hỗ trợ Cộng đồng Lawrence S. Ting.

Kinh phí 

Giải thưởng và hoạt động được hỗ trợ bởi Quỹ Hỗ trợ Cộng đồng Lawrence S. Ting; 
Ngân sách chi một số hoạt động. 
  
Các nhà tài trợ và phối hợp 
  • Tổng công ty truyền thông Viettel: Đường truyền Internet;
  • Đài truyền hình VTV2 (thông tin tuyên truyền);
Căn cứ pháp lí của đề án 
  1. Chỉ thị 55/2008/CT–BGDĐT ngày 30/09/2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008–2012;
  2. Quyết định 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng CP Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
  3. Văn bản số 9886/BGDDT-CNTT ngày 11 tháng 11 năm 2009 về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin năm học 2009 – 2010;
  4. Bản thỏa thuận hợp tác triển khai cuộc thi giữa Cục CNTT, Bộ GD&ĐT với Quỹ Hỗ trợ Cộng đồng Lawrence S. Ting, kí ngày 12 tháng 12 năm 2008.
 Mục tiêu và lợi ích tổ chức cuộc thi 
  1. Đẩy mạnh phong trào ứng dụng CNTT trong đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy một cách sáng tạo, hiện đại;
  2. Định hướng tiếp cận công nghệ hiện đại là e-Learning, tiến tới M-Learning;
  3. Tạo nguồn tài nguyên giáo dục mở (OER: Open Education Resource);
  4. Chia sẻ kinh nghiệm và cộng tác trong cộng đồng giáo dục;
  5. Tôn vinh trí tuệ, công sức của các giáo viên;
  6. Tiến tới mô hình trường học điện tử.
 Phạm vi áp dụng 
  1. Cuộc thi được tổ chức trên phạm vi cả nước;
  2. Cho tất cả các trường THPT, (cả hệ THPT-GDTX);
  3. Bước đầu cho 6 môn học:
    1. Toán,
    2. Vật lý,
    3. Hóa học,
    4. Sinh Học,
    5. Tiếng Anh,
    6. Tin học.
  4. Ngoài ra, cuộc thi còn nội dung thi chung gồm: website e-Learning theo các chủ đề môn học; sách giáo khoa điện tử; các thí nghiệm ảo; các bài trình chiếu hỗ trợ giảng dạy cho 6 môn học trên.

Đối tượng tham gia

Là Giáo viên các trường tiểu học, THCS, THPT, GDTX, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; là Sinh viên các trường sư phạm và các khoa CNTT.
Các đối tượng trên tham gia dự thi với tư cách cá nhân hoặc nhóm.

Cơ cấu giải thưởng
Tổng cộng giá trị trao cho các giải là 5.000.000.000 đồng (Năm tỉ đồng)

1. Cơ cấu giải thưởng của cuộc bao gồm:
TT
Giải thưởng
Theo Môn học
Sản phẩm  khác
Tổng
Trị giá mỗi giải (đồng)
1
Giải đặc biệt
1
   50.000.000
2
Giải xuất sắc
12
4
16
   30.000.000
3
Giải A
30
8
38
   20.000.000
4
Giải B
48
12
60
   15.000.000
5
Giải C
90
16
106
   10.000.000
6
Giải khuyến khích
120
40
160
     5.000.000
7
Giải đồng đội (cấp trường)
15
15
   20.000.000
8
Giải đồng đội (cấp Sở)
5
5
   20.000.000
9
Giải thưởng cho sản phẩm là các bài trình chiếu điện tử
300
300
        500.000
10
Quà lưu niệm (cho tất cả các nhóm vào VCK) 
như thẻ USB hoặc cặp xách…


2000
        200.000

Giải thích: 
* Theo Môn học: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh Học, Tiếng Anh và Tin học. 
* Sản phẩm khác: Website e-Learning theo các chủ đề môn học; sách giáo khoa điện tử; các thí nghiệm ảo; các bài trình chiếu hỗ trợ giảng dạy cho 6 môn học trên. 
  • Giải thưởng có thể là tiền mặt hoặc hiện vật có giá trị tương đương.
  • Cơ cấu giải thưởng trên có thể thay đổi dựa theo kết quả và chất lượng của sản phẩm. Ban Tổ chức có thể điều chuyển vì có thể có môn có nhiều thí sinh xứng đáng được giải, có môn lại ít.
2. Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo 
Ban Tổ chức cuộc thi sẽ trình Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp Bằng khen cho các tập thể và cá nhân có sản phẩm đoạt giải.

Thi ở đâu? 

Đăng ký và tham gia dự thi tại đây: http://thi-baigiang.edu.net.vn.

MATHVN.COM chúc quý thầy cô may mắn! 
»»  xem tiếp

2.2.10

Hành trình của một tài năng xuất chúng

Ngày đăng: 2.2.10 -
Kết thúc năm 2009, một nhà toán học Việt Nam ở nước ngoài đã được tạp chí Time bình chọn là người có công trình nghiên cứu thuộc 10 phát minh khoa học tiêu biểu của thế giới năm 2009. Đó là Giáo sư Ngô Bảo Châu.

Giáo sư Ngô Bảo Châu một trong những gương mặt nổi tiếng của toán học Việt Nam đã từng đoạt nhiều giải thưởng quốc tế. Từ 1/9/2010, GS Ngô Bảo Châu sẽ chính thức giảng dạy tại đại học Chicago - một trong số những trường ĐH hàng đầu thế giới.

Giáo sư Ngô Bảo Châu (thứ 3, bên trái).
Học sinh Việt Nam đầu tiên giành 2 huy chương Vàng Toán quốc tế
 
Ngô Bảo Châu sinh năm 1972 tại Hà Nội trong một gia đình trí thức. Bố anh là Giáo sư - Tiến sĩ Cơ học chất lỏng Ngô Huy Cẩn, làm việc tại Viện Cơ học Việt nam. Mẹ anh là Phó Giáo sư - Tiến sĩ Trần Lưu Vân Hiền, công tác tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương. Hồi bé, Ngô Bảo Châu theo học tại Trường Thực nghiệm Giảng Võ. Nhờ khả năng xuất sắc trong Toán học, cậu học sinh nhỏ bé này sau đó đã thi đỗ vào khối phổ thông chuyên toán, trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
Mùa hè 1988, mới 16 tuổi, đang học lớp 11 phổ thông chuyên toán, Ngô Bảo Châu đã xuất sắc đoạt Huy chương Vàng trong kỳ thi Olympic toán quốc tế tại Australia. Một năm sau, khi học lớp 12, Ngô Bảo Châu dự tiếp Olympic toán quốc tế tại CHLB Đức, và một lần nữa anh lại đoạt đoạt Huy chương Vàng. Với thành tích này, Ngô Bảo Châu đã trở thành người Việt Nam đầu tiên giành 2 Huy chương Vàng Olympic Toán quốc tế.
Vị Tiến sĩ giành Giải thưởng nghiên cứu Clay

 
Sau đó, Ngô Bảo Châu được Chính phủ Pháp cấp học bổng để sang Pháp theo học Đại học Paris 6. Là người mang chí lớn vươn tới đỉnh cao, hai năm sau anh thi vào hệ đào tạo tiến sĩ của Đại học Sư phạm Paris (École normale supérieure), trường đại học danh tiếng của nước Pháp, và bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ năm 25 tuổi, rồi Luận án habilitation (tương đương tiến sĩ khoa học) năm 31 tuổi. Năm 2004, Ngô Bảo Châu đã được hai trường đại học lớn ở Pháp là Paris 6 và Paris 11 mời làm Giáo sư, và anh nhận lời làm Giáo sư của Đại học Paris 11 vào năm 2005.
Cuối năm 2004, ở tuổi 32, Ngô Bảo Châu cùng nhà toán học người Pháp Gérard Laumon đã được Viện Toán học Clay trao tặng giải thưởng tại Đại học Harvard cho công trình nghiên cứu Le lemme fondamental pour les groupes unitaires (Bổ đề cơ bản cho các nhóm unita), để "công nhận thành tựu đặc biệt xuất sắc trong toán học" của anh. Công trình của Ngô Bảo Châu và Gérard Laumon là một bước phát triển tiếp sau công trình của Andrew Wiles chứng minh định lý cuối cùng của Fermat (được tặng Giải thưởng Wolfskehl năm 1997 và Giải thưởng nghiên cứu Clay năm 1999), cũng như công trình của người bạn anh, Laurent Lafforgue, về công thức vết (được tặng Giải thưởng nghiên cứu Clay năm 2000 và Huy chương Fields năm 2002).
Thông thường, một công trình toán học, trước hết, phải được đăng trên tạp chí chuyên ngành hay in trong sách chuyên khảo, để các nhà toán học trên thế giới có cơ hội "săm soi" từng câu, từng chữ trong vòng vài ba năm, xem còn có khiếm khuyết gì cần sửa chữa, bổ sung hoặc bác bỏ hay không, lúc bấy giờ, nếu xứng đáng, mới có thể đem đặt lên bàn làm việc của một hội đồng quốc tế xét tặng giải thưởng. Thế nhưng, công trình của Ngô Bảo Châu chỉ mới đưa lên Internet từ tháng 4/2004, thì cuối năm đã đoạt một trong những giải thưởng toán học danh giá nhất hành tinh!


Top 10 khám phá khoa học năm 2009

 
Trong những năm gần đây, Giáo sư Ngô Bảo Châu làm việc tại trường đại học Université Paris-Sud (Pháp) và Viện Nghiên cứu cao cấp (IAS) ở Princeton (Mỹ). Anh tập trung vào nghiên cứu để tìm cách chứng minh Bổ đề cơ bản Chương trình Langlands (Langlands program). Đây là một lý thuyết mang tính cách mạng trong toán học do nhà toán học Robert Langlands đã phát triển từ năm 1979, có thể nối hai nhóm của toán học là lý thuyết số và lý thuyết nhóm. Langlands cùng các cộng sự của mình đã chứng minh được những trường hợp đặc biệt của định lý cơ bản. Nhưng việc chứng minh các trường hợp tổng quát khó khăn hơn nhiều so với những gì Langlands dự đoán. Trong gần 30 năm qua, Chương trình Langlands vẫn là vấn đề hóc búa với toán học thế giới và là mục tiêu được nhiều bộ óc toán học lớn ở nhiều quốc gia dồn sức từng bước nghiên cứu chứng minh. Chính Giáo sư Ngô Bảo Châu đã nghiên cứu thành công và đưa ra một chứng minh xuất sắc cho bổ đề cơ bản của Chương trình Langlands. Công trình nghiên cứu của Giáo sư Ngô Bảo Châu đã gây tiếng vang lớn trên thế giới, và được tạp chí danh tiếng Time bình chọn là 1 trong 10 khám phá khoa học tiêu biểu của năm 2009. Theo dự kiến, với công trình toán học của mình, Giáo sư Ngô Bảo Châu được mời tham dự và đọc báo cáo trong phiên họp toàn thể tại Hội nghị Toán học thế giới 2010 sẽ được tổ chức ở Ấn Độ trong năm nay.


Được Nhà nước phong Giáo sư khi mới 33 tuổi

 
Với những thành tích đạt được ở nước ngoài, năm 2005, Ngô Bảo Châu được Nhà nước ta đặc cách phong hàm Giáo sư tại Việt Nam. Anh được Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước đặc cách phong Giáo sư (với 100% số phiếu) khi mới 33 tuổi mà không cần phải qua chức danh Phó Giáo sư. Việc phong đặc cách này đã bỏ qua một số tiêu chí vẫn được áp dụng ở nước ta trước đây mà hướng tới sự tiếp cận các tiêu chí quốc tế quan trọng nhất đối với giáo sư đại học là trình độ nghiên cứu khoa học, năng lực sáng tạo, chứ không phải là kinh nghiệm truyền thụ những tri thức sẵn có. Cho đến nay, Ngô Bảo Châu vẫn là người trẻ tuổi nhất được phong học hàm Giáo sư ở Việt Nam.
"Cuối năm 2004, một số cán bộ ở Viện Toán có gợi ý tôi làm đơn đề nghị công nhận chức danh Giáo sư, tôi cũng hơi đắn đo. Về phương diện thuần túy khoa học, tôi không nghĩ là mình không xứng đáng, nhưng về phương diện đào tạo thì tôi chưa có đóng góp gì nhiều. Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi đã gửi cho các anh ấy đơn vì tin rằng việc được công nhận Giáo sư sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong các kế hoạch công tác nghiên cứu và đào tạo của tôi trong tương lai ở Việt Nam", Giáo sư Ngô Bảo Châu cho biết.


Được bổ nhiệm làm Giảng viên ĐH Chicago

 
Vừa qua, GS Ngô Bảo Châu vừa được bổ nhiệm làm Giảng viên tại Trường đại học Chicago (Mỹ) - một trong các trường ĐH hàng đầu thế giới. Theo thông báo của trường, Ngô Bảo Châu sẽ làm Giáo sư Toán học tại ĐH Chicago kể từ 1/9/2010. Thông báo về việc này, trang web của Trường ĐH Chicago đăng bài viết có tiêu đề "Nhà toán học xuất chúng chấp nhận lời mời giảng dạy tại ĐH Chicago".
Robert Fefferman, Trưởng Khoa Vật lý và Giáo sư Toán của ĐH Chicago, cho biết: "Đây là một trong những nhà toán học tuyệt vời của thời đại chúng ta. Tôi chờ đợi những điều thật sự tuyệt vời từ chàng trai trẻ này".
Peter Constantin, Giáo sư Toán và là Chủ nhiệm khoa Vật lý tại ĐH Chicago, nhận định: "Cùng với việc tuyển dụng Ngô Bảo Châu, sự xuất hiện của Beilinson và Drinfeld cùng các tài năng khác về toán học, khoa Toán đang theo đuổi vai trò hàng đầu của mình trong đất nước".
Ngô Bảo Châu cho biết, anh quyết định giảng dạy tại ĐH Chicago cũng là vì sẽ có cơ hội được làm việc chặt chẽ hơn nữa với các đồng nghiệp tại đây.


Trái tim luôn hướng về quê hương

 
Tuy làm việc ở nước ngoài, nhưng trái tim Giáo sư Ngô Bảo Châu vẫn luôn hướng về quê hương. Anh hy vọng sẽ có thể trở về Việt Nam làm công tác đào tạo trong tương lai gần. Giáo sư cho rằng, việc cải thiện điều kiện nghiên cứu khoa học ở Việt Nam là rất quan trọng.

Từ những kinh nghiệm thành công của bản thân, Giáo sư Ngô Bảo Châu tâm sự với những bạn trẻ: "Các bạn may mắn hơn nhiều lớp đàn anh vì các bạn có lựa chọn. Đúng là khoa học không phải là con đường dễ dàng và dễ giàu, nó là một con đường chông gai, nên cần có đủ niềm tin và say mê để lựa chọn con đường này. Đổi lại, phần thưởng sẽ là những cảm xúc, những chân lý mà bạn sẽ khó đến gần nếu chọn một con đường khác".  
Theo Dân Trí
»»  xem tiếp
 

Phần mềm hỗ trợ

Kết nối với tác giả

Liên hệ với tác giả

» My email: quyndc@gmail.com
» Ghi rõ nguồn MathVn.Com khi copy bài viết từ trang này

Thông tin - Information

» Xem tốt nhất ở độ phân giải 1024 x 768 pixels với trình duyệt Chrome
» Page Rank Check
Bài giảng điện tử, Download sách Toán, Công cụ GSP, Giáo án Toán, Đề luyện thi Đại học môn Toán khối A, khối B, khối D, MathVn Vnmath.com Math.com Maths Maths.Vn, Chuyên đề luyện thi, Giáo án world, Bài giảng Powerpoint, Mô hình động bằng GSP 3D, Máy tính bỏ túi, MTBT Casio, Math.vn, Math vn, Vnmaths